Shadow banking là gì

 - 
(ĐTCK) Thông tin ngành kinh doanh ‘tín dụng đen’ toàn cầu lên đến 67.000 tỷ USD mà các phương tiện truyền thông đăng tải đã khiến nhiều người lo ngại.Bạn đang xem: Shadow banking là gì

Tin tức về “shadow banking system” được đăng tải trên một số phương tiện thông tin đại chúng mới đây với tiêu đề: “Ngành kinh doanh ‘tín dụng đen’ toàn cầu lên đến 67.000 tỷ USD” đã khiến nhiều người không khỏi bất ngờ và lo ngại. Phải chăng, hoạt động “ngân hàng trong bóng tối”, “cho vay nặng lãi” là phổ biến trên toàn thế giới?

Tít quá “giật gân”

Nếu không đọc kỹ nội dung, mà chỉ lướt qua tiêu đề, không ít người đọc có thể cho rằng, hoạt động cho vay nặng lãi vi phạm pháp luật là phổ biến trên toàn thế giới, có quy mô lớn gấp gần 560 lần tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng Việt Nam và hình như bão tín dụng đen không chỉ hoành hành ở Việt Nam, mà còn trên toàn thế giới?

Thực sự, nội dung bài gốc và bài dịch không liên quan đến “tín dụng đen” như ý nghĩa phổ biến của cụm từ này. “Shadow banking system” cần được nhìn nhận là ngân hàng song hành, mà hoạt động chủ yếu dựa trên các định chế tài chính phi ngân hàng. Nếu hệ thống ngân hàng truyền thống huy động vốn tiền gửi từ công chúng để thực hiện dịch vụ thanh toán, cho vay, các dịch vụ ngân hàng truyền thống khác, thì hệ thống ngân hàng song hành (shadow banking) thông qua các quỹ đầu tư và các cơ cấu đầu tư đặc biệt (SIV) để huy động vốn từ các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, doanh nghiệp và cá nhân (thông qua bán chứng chỉ quỹ) để đầu tư vào các sản phẩm tài chính như trái phiếu chính phủ, thương phiếu và các chứng khoán nợ phái sinh được xem là có độ an toàn nhất định.

Bạn đang xem: Shadow banking là gìBạn đang xem: Shadow banking là gì


Bạn đang xem: Shadow banking là gì

*

Repo cổ phiếu, cho vay margin của các CTCK và CTQLQ cũng là “shadow banking”

Lịch sử của “Shadow banking”

McCulley cho rằng, “shadow banking system” bắt đầu được hình thành từ sự ra đời vào những năm 1970 của các quỹ dạng mở, huy động vốn từ công chúng với lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàng và đầu tư vào chứng khoán nợ có độ an toàn cao gồm tín phiếu chính phủ Mỹ và thương phiếu của các công ty lớn. Sự ra đời của các công cụ phái sinh dưới dạng chứng khoán có bảo đảm là các khoản vay của các ngân hàng thương mại và trái phiếu có thời hạn còn lại dài vào giai đoạn 1987 - 1988 đánh dấu một bước tiến lớn của hệ thống “ngân hàng song hành”.

Xem thêm: Cách Làm Bánh Bông Lan Bơ Nho Khô, Raisin Butter Cake


Xem thêm: Cách Bảo Quản Kim Chi - Cách Sử DụNg Và BảO QuảN Kim Chi ĐúNg CáCh


Từ đó, hoạt động chứng khoán hóa các khoản vay và các công cụ nợ dài hạn tại các thị trường tài chính phát triển được đẩy mạnh, góp phần tạo ra thanh khoản cho các danh mục và các khoản vay dài hạn trước đây không có thanh khoản, tạo nguồn vốn mới và tăng vòng quay tín dụng cho hệ thống tài chính.

Tuy nhiên, các sản phẩm này đã phát triển một cách thái quá, được các ngân hàng đầu tư và các quỹ mạo hiểm “chế tạo tinh xảo” mang đi bán khắp thế giới, huy động một nguồn vốn lớn trên thị trường tài chính toàn cầu, tiếp sức cho bong bóng bất động sản và tài chính tại Mỹ và châu Âu giai đoạn 2003 - 2006. Bong bóng tín dụng toàn cầu xì hơi từ cuối 2007 và vỡ trong năm 2008 có một phần nguyên nhân từ sự phát triển thái quá của các sản phẩm phái sinh trong hệ thống ngân hàng song hành. Từ đó đến nay, hệ thống ngân hàng song hành chịu sự giám sát chặt chẽ hơn của các cơ quan giám sát, với sự ra đời của Đạo luật Dodd-Frank vào tháng 7/2010 (Dodd-Frank Wall Street Reform Act 2010 - đạo luật giám sát sâu rộng và chặt chẽ tất cả các hoạt động của thị trường tài chính phát triển nhất thế giới).

Cần nhìn nhận khách quan

Xét cho cùng, hệ thống trung gian tài chính, dù là ngân hàng truyền thống hay ngân hàng song hành, sẽ liên tục có những biến đổi nhằm đáp ứng với nhu cầu ngày càng đa dạng về các công cụ huy động vốn và sản phẩm tín dụng, để đảm bảo sự kết nối hiệu quả hơn, nhanh nhạy hơn và an toàn hơn giữa nguồn tiết kiệm với các hoạt động đầu tư của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Song cần có nhìn nhận khách quan với hai mặt của sự vận động của hệ thống thống ngân hàng song hàng để có những biện pháp giám sát phù hợp, nhằm phát huy mặt tích cực của hoạt động ngân hàng song hành, tăng tốc độ luân chuyển vốn trên thị trường tài chính trên cơ sở an toàn và hiệu quả, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực, tránh rủi ro cho hệ thống tài chính và nền kinh tế.